Khoa Tuyến vú


Giới thiệu
Ung thư vú đang có chiều hướng gia tăng trên toàn thế giới và trở thành gánh nặng toàn cầu với tỷ lệ tử vong cao. Tại Việt Nam, theo thống kê của Globocan năm 2024, có khoảng 24.533 ca mới ung thư vú, chiếm 28,9% tổng các loại ung thư ở phụ nữ, trở thành ung thư phổ biến nhất của nước ta cùng với ung thư gan. Mặc dù các chiến lược tầm soát sớm đã được đẩy mạnh, các tiến bộ trong điều trị đa mô thức đã làm giảm nguy cơ tử vong, nhưng thực tế, tỷ lệ mắc ung thư vú vẫn không ngừng tăng lên. Không chỉ có phụ nữ ở giai đoạn tiền mãn kinh, mà giờ đây người trẻ cũng rất dễ mắc bệnh này. Điều đáng nói là hơn 40% trường hợp người bệnh nhập viện giai đoạn trễ dẫn đến việc điều trị khó khăn và tiên lượng xấu.
Ung thư tuyến giáp là một trong những bệnh ung thư nội tiết thường gặp nhất và đang có xu hướng gia tăng rõ rệt trên toàn cầu trong vài thập kỷ gần đây. Bệnh thường xuất hiện ở độ tuổi trung niên nhưng đang ngày càng tăng ở nhóm tuổi trẻ hơn. Nhìn chung, ung thư tuyến giáp đa số có tiên lượng tốt, tỷ lệ sống còn cao, đặc biệt khi được phát hiện ở giai đoạn sớm và điều trị phù hợp. Tuy nhiên, xu hướng gia tăng số ca mắc đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác sàng lọc, chẩn đoán chính xác và quản lý điều trị lâu dài.
Trước những xu hướng trên, Khoa Tuyến vú – Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng với mục tiêu trở thành đơn vị chuyên sâu trong lĩnh vực chẩn đoán, điều trị và phẫu thuật các bệnh lý tuyến vú và tuyến giáp nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng gia tăng của cộng đồng.
Thế mạnh chuyên môn
Khoa Tuyến vú Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh hoạt động trên tinh thần “Mang đến giải pháp chăm sóc sức khỏe toàn diện”. Chính vì vậy, khoa luôn chú trọng trong việc bổ sung và duy trì chất lượng các dịch vụ, đồng thời không ngừng cải thiện phương pháp chẩn đoán và điều trị. Hiện nay, Khoa Tuyến vú đang duy trì các hoạt động: Khám, tư vấn, điều trị cho bệnh nhân có bệnh lý tuyến vú lành tính và điều trị đa mô thức với bệnh nhân ung thư vú, khám, tầm soát và điều trị các bệnh lý về tuyến giáp. Ngoài ra khoa còn điều trị các bệnh lý ung bướu vùng đầu mặt cổ như ung thư da, bướu tuyến nước bọt,... Cụ thể, Khoa Tuyến Vú thực hiện khám, tư vấn, điều trị cho người bệnh có bệnh lý tuyến vú lành tính và ác tính sau:
Bướu sợi tuyến: Đây là một bệnh lý tuyến vú lành tính khá phổ biến. Bướu sợi tuyến thường xuất hiện ở phụ nữ trẻ, những người có lượng hormone không ổn định hoặc sử dụng các loại thuốc bổ sung hormone estrogen.
Đau vú: Tình trạng này có thể xuất hiện từ nhẹ đến nặng, có thể liên quan chu kỳ kinh nguyệt hay không. Khoảng 70% phụ nữ xuất hiện cơn đau vú, trong đó có khoảng 15% trường hợp cần dùng thuốc.
Bướu diệp thể: Đây là một loại khối u hiếm ở vú, chỉ chiếm 1% trong tổng số các khối u ở vú. Bướu diệp thể có thể diễn tiến nhanh và có thể bao gồm khối u dạng lành tính hoặc ác tính.
U mô thừa vú (Breast hamartoma): Bệnh lý này còn được biết đến với cái tên u sợi tuyến mỡ vú hoặc vú trong vú. U mô thừa vú thường xuất hiện ở phụ nữ trên 35 tuổi và chỉ chiếm khoảng 0,1% - 0,7% trường hợp người bệnh.
Viêm vú: Bệnh lý này đặc trưng bởi tình trạng đau và viêm ở vú. Tình trạng này có thể xảy ra ở phụ nữ cho con bú, thường là trong ba tháng đầu sau khi sinh.
Nữ hóa tuyến vú: Nữ hóa tuyến vú là tình trạng tuyến vú ở nam phát triển lớn. Nguyên nhân là do sự mất cân bằng giữa hai loại nội tiết tố là estrogen và testosterone. Theo thống kê, khoảng ½ người trẻ tuổi và ⅔ người lớn tuổi trên 50 tuổi (điển hình là từ 50 - 69 tuổi) mắc phải tình trạng này.
Phì đại tuyến vú: Đặc trưng bởi tình trạng vú tăng thể tích quá mức bình thường do sự quá phát của mô tuyến vú kèm theo sự tăng thâm nhập của tổ chức mỡ xung quanh. Tình trạng này có thể xuất hiện ở thời điểm dậy thì hoặc sau giai đoạn sinh con.
Điều trị đa mô thức đối với bệnh nhân ung thư tuyến vú: Tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, việc điều trị ung thư vú được tiến hành bằng cách kết hợp đa mô thức giữa các phương pháp: Phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, liệu pháp miễn dịch, nhắm trúng đích và nội tiết.
Phẫu thuật: Phẫu thuật bảo tồn vú, đoạn nhũ tiết kiệm da kèm tái tạo vạt cơ hoặc túi độn, đoạn nhũ nạo hạch, sinh thiết hạch lính gác, tái tạo vú trì hoãn sau đoạn nhũ, đặt túi giãn mô, phẫu thuật vi phẫu tái tạo vú.
Hóa trị: Áp dụng phương pháp hóa trị tân hỗ trợ, hóa trị hỗ trợ, hóa trị triệu chứng.
Xạ trị: Phương pháp xạ trị bổ túc.
Liệu pháp nhắm trúng đích: Trastuzumab.
Liệu pháp miễn dịch: Pembrolizumab.
Liệu pháp nội tiết: Tamoxifen, kháng aromatase. Trong đó, phẫu thuật tái tạo vú tức thì sau đoạn nhũ là mục tiêu cũng như mong muốn của nhân viên y tế giúp mang lại kết quả thẩm mỹ và đạt hiệu quả điều trị. Tái tạo vú không chỉ giúp người bệnh giữ được vể đẹp hình thể mà còn giúp tránh tâm lý mặc cảm, nhanh chóng hòa nhập và ổn định cuộc sống sau điều trị.
Bên cạnh bệnh lý tuyến vú, các hoạt động phát triển và điều trị chuyên sâu các bệnh lý tuyến giáp lành tính và ung thư tuyến giáp, bướu tuyến nước bọt (bướu tuyến mang tai, bướu tuyến dưới hàm), bướu cận giáp, ung thư da, … cũng được đẩy mạnh. Khoa Tuyến Vú thực hiện thành thạo các kĩ thuật cắt thùy tuyến giáp, cắt toàn bộ tuyến giáp, nạo hạch cổ trung tâm và nạo hạch cổ bên. Ngoài ra khoa còn áp dụng các kĩ thuật hiện đại như phẫu thuật nội soi cắt tuyến giáp qua ngả miệng giúp tăng tính thẩm mỹ không để lại sẹo, cũng như giúp nhanh hồi phục, giảm đau và xuất viện sớm sau mổ. Việc phối hợp sử dụng thuốc nội tiết, iod phóng xạ cũng được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng điều trị cho người bệnh. Các bệnh lý tuyến giáp thường gặp bao gồm:
Nhân giáp lành tính là bệnh lý khá phổ biến, thường gặp ở nữ giới. Đa số bệnh nhân sẽ được theo dõi chủ động, nếu nhân giáp lớn gây mất thẩm mỹ hoặc các triệu chứng như nuốt vướng, khàn tiếng, khó thở,… thì sẽ được chỉ định can thiệp phẫu thuật.
Cường giáp: phối hợp điều trị với chuyên khoa nội tiết trên những bệnh nhân cường giáp kháng trị không đáp ứng với điều trị nội khoa, cần phẫu thuật cắt tuyến giáp.
Ung thư tuyến giáp: Gồm nhiều dạng bao gồm ung thư tuyến giáp dạng nhú, ung thư tuyến giáp dạng tuỷ, dạng kém biệt hoá,… Đa số bệnh nhân có tiên lượng tốt. Tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh là điều trị đa mô thức, phối hợp giữa phẫu thuật, điều trị nội tiết và sử dụng iod phóng xạ.
Bướu tuyến nước bọt: Đa số là lành tính, thường gặp nhất là u tuyến đa dạng, u Warthin,… Bệnh thường biểu hiện bằng khối u ở vùng dưới hàm, góc hàm, thường không đau. Các triệu chứng nghi ngờ ác tính bao gồm khối u phát triển nhanh, liệt mặt, gây loét da,.. Phương pháp điều trị chính là phẫu thuật cắt bỏ khối u.
Bướu cận giáp: Tuyến cận giáp tiết PTH giúp điều hòa canxi trong cơ thể, bướu cận giáp gây tăng canxi có thể gây các triệu chứng như mệt mỏi, táo bón, sỏi thận, rối loạn nhịp tim,... Phẫu thuật cắt bỏ bướu cận giáp và theo dõi canxi máu sau mổ là phương pháp điều trị chủ yếu của bệnh lý này.
Ung thư da: Gồm nhiều thể như ung thư tế bào đáy, ung thư tế bào gai và melanoma. Biểu hiện bệnh thường là mảng thay đổi sắc tố trên da, gây loét da, và tăng dần về kích thước. Điều trị chính bao gồm phẫu thuật cắt rộng và xoay vạt lấp khuyết hổng vừa đảm bảo về mặt bệnh lý cũng như đảm bảo về thẩm mỹ cho người bệnh.

Đào tạo & Nghiên cứu
Với cương vị là cơ sở đào tạo thực hành nguồn nhân lực y tế của Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Không dừng lại ở đó, Khoa Tuyến vú còn tổ chức hoạt động học hỏi, hợp tác với những chuyên gia. Bên cạnh đó, các hội thảo, hội nghị khoa học, những buổi trao đổi kinh nghiệm cũng được khoa thường xuyên tham gia, tổ chức.
Khoa Tuyến vú thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, bổ túc kiến thức, kỹ thuật chẩn đoán và điều trị các bệnh lý tuyến vú cho sinh viên, điều dưỡng, bác sĩ định hướng chuyên khoa. Đồng thời, phối hợp với Phòng Khoa học và Đào tạo để tham gia đào tạo và nghiên cứu y khoa chuyên sâu cho bác sĩ nội trú ung thư về bệnh lý tuyến vú và bệnh lý tuyến giáp.
Khoa Tuyến vú còn tổ chức hoạt động học hỏi, hợp tác với những chuyên gia hàng đầu ở các nước trong khu vực nhằm phát triển nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, ứng dụng các thành tựu và công nghệ hiện đại vào thực tế. Hiện tại, Khoa Tuyến vú đang tập trung phát triển phương pháp phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua ngã miệng và dự kiến sẽ tiếp tục triển khai để đạt được kết quả tối ưu nhất cho người bệnh.
Trang thiết bị
Trực thuộc “hệ sinh thái” khám chữa bệnh của Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, Khoa Tuyến vú có cơ sở hạ tầng khang trang đảm bảo thuận tiện cho người bệnh và người thân. Phòng điều trị, phòng tiêm truyền được trang bị đầy đủ các dụng cụ thăm khám như nhiệt kế, máy đo, thước đẩy,... Khu vực phòng bệnh rộng rãi, thông thoáng, mỗi giường bệnh được trang bị đầy đủ hệ thống đèn, bình oxy, thiết bị gọi điều dưỡng,... Các trang thiết bị khám chữa bệnh của Khoa Tuyến vú luôn được cập nhật, bảo dưỡng định kỳ, đảm bảo mang đến kết quả nhanh và chính xác. Sự có mặt của máy hỗ trợ kỹ thuật sinh thiết u vú dưới hướng dẫn siêu âm có hỗ trợ máy hút chân không (VABB) tại Khoa Tuyến vú đã tạo ra bước ngoặt lớn trong việc điều trị thành công cho người bệnh ung thư vú.
Đội ngũ nhân sự
Ung thư vú và tuyến giáp là bệnh lý tiềm ẩn. Phần lớn người bệnh chỉ kịp phát hiện khi bệnh đã chuyển biến nặng. Cơ chế bệnh sinh của ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng vô cùng phức tạp. Việc đưa ra những phán đoán chính xác khi tầm soát cũng như đề xuất các phương pháp điều trị phù hợp đòi hỏi đội ngũ bác sĩ phải có sự am hiểu sâu sắc về bệnh. Các bác sĩ đang công tác tại Khoa Tuyến vú Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh là những Tiến sĩ, Thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa với trình độ chuyên môn cao và dày dặn kinh nghiệm. Mỗi bác sĩ luôn đề cao tinh thần học hỏi, bồi dưỡng chuyên môn và kỹ năng làm việc để mang đến cho người bệnh phương pháp chăm sóc sức khỏe tối ưu.
