Phiếu thông tin bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới

1. Định nghĩa

Bệnh giãn tĩnh mạch là hậu quả của sự hư hại các van trong lòng tĩnh mạch, làm cho máu chảy theo một chiều ngược với bình thường. Thay vì được bơm từ bàn chân lên tim, máu sẽ đi theo chiều ngược lại làm tăng áp lực trong lòng tĩnh mạch đồng thời kéo giãn thành tĩnh mạch.

2. Nguyên nhân

Một vài yếu tố sau đây có thể dẫn đến bệnh giãn tĩnh mạch:

  • Tính chất công việc buộc phải đứng, ngồi một chỗ trong thời gian dài

  • Do tuổi tác, tuổi càng cao, khả năng bị giãn tĩnh mạch càng lớn

  • Do thói quen mặc quần quá chật, mang giày cao gót ở phụ nữ

  • Do quá trình mang thai, phụ nữ mang thai nhiều lần

  • Do béo phì, táo bón..

3. Dịch tễ học

Thống kê ở người trưởng thành, khoảng 73% nữ giới và 56% nam giới bị suy giãn tĩnh mạch chân. Nữ giới có tỷ lệ mắc cao hơn, nguyên nhân được xác định là do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ, thai nghén gây chèn ép cản trở máu tĩnh mạch. Một số ngành nghề, công việc như bán hàng, thợ dệt, may, chế biến thủy, hải sản, giáo viên… đòi hỏi phải đứng lâu có tỷ lệ người mắc bệnh cao hơn. Người béo phì, ít vận động hoặc làm việc mang vác nặng… cũng dễ bị giãn tĩnh mạch.

4. Triệu chứng

4.1. Ở giai đoạn đầu

  • Triệu chứng mờ nhạt, người bệnh thường có biểu hiện đau chân, nặng chân hoặc đôi khi chỉ là cảm giác mang giày dép chật hơn bình thường

  • Đừng ngồi nhiều dễ gây mỏi chân hoặc phù nhẹ

  • Chuột rút vào ban đêm

  • Dị cảm như cảm giác bị châm kim, kiến bò vùng cẳng chân về đêm

  • Các mạch máu nhỏ li ti nhất là ở vùng cổ chân và bàn chân nổi lên.

4.2. Giai đoạn tiến triển

  • Bệnh nhân phù chân, phù ở mắt cá hoặc bàn chân

  • Màu sắc da vùng cẳng chân thay đổi do máu bị ứ ở tĩnh mạch lâu ngày gây loạn dưỡng

  • Tĩnh mạch trương phồng, nổi rõ gây cảm giác nặng, đau nhức, không mất đi khi nghỉ ngơi

  • Các mảng máu bầm trên da.

4.3. Giai đoạn biến chứng

  • Viêm tĩnh mạch nông huyết khối gây thuyên tắc tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi, có thể nguy hiểm tính mạng

  • Giãn vỡ tĩnh mạch gây ra chảy máu nặng

  • Nhiễm khuẩn vết loét của suy tĩnh mạch mãn tính.

5. Chẩn đoán

Khám lâm sàng: suy giãn tĩnh mạch có thể được chẩn đoán qua khai thác yếu tố nguy cơ, các triệu chứng của người bệnh. Có thể nhìn và sờ thấy tĩnh mạch giãn ra dưới da.

Siêu âm Doppler mạch máu: siêu âm xác định chẩn đoán khi ghi nhận dòng trào ngược qua van tĩnh mạch với thời gian kéo dài >0.5 giây ở tĩnh mạch hiển và tĩnh mạch sâu ở cẳng chân hoặc >1 giây ở tĩnh mạch đùi khoeo. Siêu âm có thể xác định tổn thương của van tĩnh mạch hiển lớn, hiển bé, tĩnh mạch sâu và các van tĩnh mạch xuyên để giúp lựa chọn kỹ thuật điều trị phù hợp.

6. Điều trị

6.1. Điều trị nội khoa

Ngăn chặn sự trào ngược và làm các lực tác động lên dòng chảy của tĩnh mạch được tốt hơn như: để chân cao khi nghỉ ngơi, tập cơ mạnh, tránh đứng hoặc ngồi quá lâu, mang tất thun hoặc cuốn chân bằng miếng băng thun, vớ áp lực và duy trì chế độ ăn nhiều chất xơ tránh táo bón

Sử dụng các thuốc làm bền thành mạch như daflon, rutin C; nhưng chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của giãn tĩnh mạch là chủ yếu.

6.2. Phẫu thuật

Stripping: Lột bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn bằng một dụng cụ chuyên dùng luồn trong lòng mạch. Đây là phương pháp điều trị khá triệt để, có tỷ lệ tái phát thấp nhất. Trước những năm 2000, phẫu thuật lột bỏ tĩnh mạch hiển là kỹ thuật chính điều trị suy giãn tĩnh mạch chi dưới. Từ hơn 10 năm gần đây, kỹ thuật laser và sóng cao tần nội tĩnh mạch được áp dụng đã mang lại những kết quả rất tốt. Ngày nay, với sự phát triển của kỹ thuật laser và sóng cao tần nội tĩnh mạch và đã thay thế gần như hoàn toàn phẫu thuật stripping.

CHIVA: đây là tên viết tắt của kỹ thuật “Cure conservatrice et Hemodynamique de L’Insuffisance Veineuse en Ambulatoire”, mục tiêu là để bảo tồn tĩnh mạch hiển, giữ làm mạch máu ghép cho các phẫu thuật bắc cầu mạch máu như bắc cầu động mạch vành, bắc cầu động mạch chi dưới… Để làm tốt kỹ thuật CHIVA, bác sĩ sẽ siêu âm đánh dấu chính xác vị trí van tĩnh mạch bị tổn thương và tĩnh mạch bàng hệ

6.3. Can thiệp ít xâm lấn (Laser hay RFA nội mạch)

Xơ tắc mạch bằng năng lượng nhiệt (laser hoặc RFA): là phương pháp hủy mô bằng nhiệt gây ra bởi sự ma sát của các ion trong mô nhằm mục đích loại bỏ dòng máu trào ngược trong tĩnh mạch hiển lớn thường áp dụng cho bệnh nhân giãn tĩnh mạch độ 2 trở lên theo phân độ CEAP, điều trị nội khoa không cải thiện.

7. Theo dõi sau can thiệp nội tĩnh mạch

Tại phòng mổ: theo dõi tình trạng đau vùng mổ, các biến chứng của thủ thuật.

Có thể xuất viện trong ngày sau thủ thuật, khi bệnh nhân ổn định, không xảy ra các tai biến.

Băng thun hoặc vớ (tất) tĩnh mạch 2-7 ngày đầu sau can thiệp

Tái khám: 1-2 tuần sau thủ thuật.

8. Biến chứng của thủ thuật

  • Huyết khối tĩnh mạch sâu: do đốt laser/RFA tĩnh mạch hiển ở vị trí sát chỗ hợp lưu vào tĩnh mạch sâu.

  • Tụ máu ở đùi, cẳng chân vùng can thiệp: thường tự giới hạn và giảm dần.

  • Đau sau can thiệp: thường ít đau và đáp ứng khi dùng thuốc giảm đau.

  • Nhiễm trùng vết mổ: hiếm xảy ra.

9. Chế độ dinh dưỡng

  • Không có chế độ dinh dưỡng đặc biệt.

  • Chế độ ăn có nhiều chất xơ tránh táo bón, béo phì

10. Phòng ngừa tình trạng suy tĩnh mạch

Áp dụng các biện pháp làm giảm tình trạng trào ngược van tĩnh mạch giúp phòng bệnh, cũng như cải thiện tình trạng bệnh.

Tránh đứng hoặc ngồi lâu tại chỗ

Thực hiện các bài tập suy giãn tĩnh mạch

Kê chân cao khi ngồi hay nằm nghỉ

Mang vớ (tất) áp lực chuyên dụng.

Chia sẻ

Bài viết liên quan