Suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới
1. Tĩnh mạch là gì?
Tĩnh mạch là các mạch máu đưa máu nghèo oxy trở về tim. Có 03 loại tĩnh mạch ở chi dưới: tĩnh mạch nông nằm trong da và dưới da, tĩnh mạch sâu nằm sâu trong cơ thể giữa các nhóm cơ và tĩnh mạch xuyên kết nối hai loại trên. Máu ở chân trở về tim chủ yếu qua đường các tĩnh mạch sâu. Bình thường máu tĩnh mạch trở về tim nhờ có:
Lực đẩy từ động mạch, lực hút do tim co bóp.
Áp lực âm trong lòng ngực hút máu về tim.
Sự co bóp của các khối cơ cẳng chân (“bơm cơ”), ép vào các tĩnh mạch sâu và đẩy máu đi về tim.
Hệ thống van trong lòng tĩnh mạch, giữ không cho máu trào ngược dòng. Khi hệ thống van một chiều của tĩnh mạch bị suy, sẽ xuất hiện dòng máu trào ngược dẫn đến tình trạng suy tĩnh mạch mạn tính (STMMT).
STMMT được định nghĩa là tình trạng các tĩnh mạch không thể bơm đủ máu trở về tim. Bệnh này thường gặp ở chi dưới, xảy ra khoảng 10-35% người lớn. Bệnh thường tiến triển chậm, không rầm rộ, ít nguy hiểm nhưng trở ngại nhiều cho sinh hoạt và công việc hàng ngày, điều trị lâu dài và tốn kém nhất là khi có biến chứng
2. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của STMMT chi dưới
Thói quen đứng hay ngồi lâu gây ứ trệ máu và tăng áp lực tính mạch của chi dưới.
Huyết khối tĩnh mạch sâu ngăn cản dòng máu trở về tim.
Viêm tĩnh mạch với hình thành huyết khối trong các tĩnh mạch nông và sâu.
Khiếm khuyết van do bẩm sinh.
Nhiều yếu tố khác: nữ giới, sinh đẻ nhiều, béo phì hay quá cân, táo bón kinh niên, di truyền, nội tiết, ít vận động và tập luyện thể dục, trên 50 tuổi....
3. Triệu chứng và diễn biến tự nhiên của STMMT chi dưới
Các triệu chứng và dấu hiệu sớm của bệnh bao gồm:
Người bệnh có cảm giác bó chặt ở bắp chân, nặng chân, mỏi chân, ảnh hưởng giấc ngủ . Có khi thấy tê, kiến bò vùng bàn chân.
Vọp bẻ (chuột rút) ở bắp chân, thường xảy ra về đêm.
Sưng phù xung quanh hai mắt cá, thấy rõ vào buổi chiều tối.
Các triệu chứng thường nặng lên vào chiều tối, hoặc sau khi đứng lâu, sau một ngày làm việc và giảm bớt vào buổi sáng khi ngủ dậy, hoặc sau khi nghỉ ngơi, kê chân cao.
Dãn mao mạch và dãn các tĩnh mạch nông ở chân. Có 03 loại dãn tĩnh mạch nông: dãn thân tĩnh mạch, dãn tĩnh mạch nhỏ dạng mạng nhện. Các van bên trong tĩnh mạch dãn bị suy (mất chức năng).
Viêm tĩnh mạch - huyết khối
Là tình trạng sưng viêm của các tĩnh mạch nông hoặc sâu gây ra bởi cục máu đông. Gặp ở người bệnh bị các bệnh dễ đưa đến các huyết khối, bệnh nặng, phẫu thuật lớn, ngồi lâu (nghề nghiệp, đi máy bay đường dài)....
Khi bị huyết khối tĩnh mạch nông: tĩnh mạch nổi hẳn lên, sờ ẩm và cứng dọc theo tĩnh mạch, rất đau, có thể kèm đỏ da. Khi bị huyết khối tĩnh mạch sâu: gây tắc và ứ trệ, chân nóng, đau, sưng đỏ, có thể bị chảy máu, ngứa, đau nhức nhối, nhiễm trùng thứ phát. Huyết khối tĩnh mạch nông hiếm khi gây biến chứng, không gây nguy hiểm đến tính mạng, tuy vậy cần thăm khám cẩn thận để loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu phối hợp.
Huyết khối tĩnh mạch sâu đôi khi có thể bong ra và đi lên phổi, gây thuyên tắc động mạch phổi với tỷ lệ tử vong rất cao
Loạn dưỡng da chân do rối loạn biến dưỡng: da phù nề, dày lên, có thể dẫn đến tróc vảy, chảy nước và chàm da, thay đổi màu sắc, sạm da và xơ cứng bì.
Loét cẳng chân ở đoạn thấp, là biến chứng ở giai đoạn muộn nhất, gây đau dớn và điều trị rất khó khăn. Ban đầu là loét nông, để lâu loét sẽ ăn sâu dần và rộng ra, dễ bội nhiễm, có thể tái đi tái lại nhiều lần.
Các khám nghiệm cần làm:
Xét nghiệm đông máu.
Siêu âm Duplex đo tốc độ dòng máu và xem xét cấu trúc các tĩnh mạch chân.
Chụp X-quang tĩnh mạch để xem xét về giải phẫu của tĩnh mạch.
4. Điều trị STMMT
Nội khoa
Thay đổi thói quen sinh hoạt và công việc hàng ngày.
Tùy trường hợp mà sử dụng các thuốc: giảm đau, kháng viêm, kháng sinh, chống đông, làm tan cục máu, làm bền thành mạch (aescin, flavonoid)..
Mang vớ áp lực: đeo liên tục ban ngày và giúp khép các van tĩnh mạch bị hở, làm hạn chế máu ứ trệ chảy ngược, giảm phù nề.
Chích xơ: áp dụng cho các dãn tĩnh mạch nhỏ dạng lưới và khu trú.
Phẫu thuật: lấy bỏ các túi tĩnh mạch dãn, lột tĩnh mạch, sửa van, tạo hình tĩnh mạch qua da...
Can thiệp nội mạch bằng sóng cao tần, laser hay keo sinh học: là kỹ thuật mới điều trị dãn tĩnh mạch, ít đau, mau hồi phục và đảm bảo thẩm mỹ, thay cho phẫu thuật lột tĩnh mạch kinh điển trước đây.
5. Nên làm gì để tránh các biến chứng?
STMMT diễn biến mạn tính lâu dài theo thời gian và tuổi tác.
Cần tập trung chữa trị tốt, có kế hoạch theo dõi tái khám định kỳ khi bệnh còn ở giai đoạn sớm. Điều trị bằng thuốc và vớ áp lực ở giai đoạn dãn tĩnh mạch nhỏ dạng mạng nhện hay dạng lưới. Ở giai đoạn dãn thân tĩnh mạch, cần đến phẫu thuật cắt bỏ hoặc can thiệp nội mạch phối hợp với điều trị nội khoa. Cần thay đổi thói quen làm việc và sinh hoạt; tránh đứng lâu hoặc ngồi bất động kéo dài; khi đi ô tô hay máy bay đường dài thì phải gấp duỗi chân từng lúc cho máu lưu thông, uống nhiều nước, mang tất dài hỗ trợ; giảm cân khi dư thừa; dùng thuốc để phòng huyết khối tĩnh mạch sâu khi có chỉ định.
Các tổn thương van tĩnh mạch mạn tính tuy không thể hồi phục, nhưng nếu điều trị tốt, người bệnh vẫn có thể làm việc sinh hoạt bình thường.


