Phong bế thần kinh: Đau lưng do nguyên nhân khối khớp
1. Phong Bế Thần Kinh Chi Phối Khớp Cột Sống Bằng Thuốc Khi
Để làm chẩn đoán:
Đau lưng mạn tính >3 tháng.
Đau có tính chất phù hợp với đau do khớp khớp.
Không có yếu chân, bí tiểu/tiểu.
Không có dị ứng với thuốc tê, rối loạn đông máu, nhiễm trùng ngoài da.
Có phim chụp kèm vùng lưng, ít nghĩ đau lưng do các nguyên nhân khác.
Có hình ảnh thoái hóa cột sống lưng.
Dù mục đích chẩn đoán là chính nhưng nhờ tác dụng giảm đau của phong bế nên đây cũng là một phương pháp điều trị giảm đau ngắn - trung hạn.
Phương pháp: dùng một lượng thuốc nhỏ có tác dụng ngăn tiềm bên cạnh các nhánh thần kinh khớp cột sống lưng
Kết quả: người bệnh giảm đau nhiều >50% được coi như là có đáp ứng, chẩn đoán được xác lập.
2. Cần Chuẩn Bị Gì Trước Khi Phong Bế Bằng Thuốc
Cung cấp đầy đủ các tiền sử phẫu thuật, bệnh lí, dị ứng thuốc.
Nên ăn sáng trước khi làm thủ thuật chẩn đoán.
Thử thuật kéo dài khoảng 20 phút, người bệnh có thể về nhà trong ngày.
Cảm giác lâng lâng, chóng mặt là một triệu chứng thường gặp, hồi phục sau 20 phút đến 1 tiếng.
Người bệnh nên đi cùng với thân nhân và không tự lái xe về nhà.
3. Làm Gì Nếu Có Đáp Ứng Với Phong Bế Bằng Thuốc?
Phương pháp 1: dùng sóng cao tần tác động vào nhánh thần kinh. Tác dụng tương tự phong bế bằng thuốc nhưng thời gian hiệu quả kéo dài.
Phương pháp 2: dùng huyết tương tự thân giàu tiểu cầu (PRP) hoặc các thuốc có tính chất hỗ trợ tái tạo (HA) hỗ trợ quá trình hồi phục.
Điều kiện: Thực hiện ở người bệnh có đáp ứng với phong bế bằng thuốc trên 50%, đánh giá sau 1−2 tuần.
Mục tiêu: Giảm đau trung và dài hạn.
Giảm mức độ đau, tần suất cơn đau, thời gian mỗi cơn đau.
Điều trị bằng sóng cao tần, PRP, HA có thể lặp lại một năm hai đến ba lần.
Phong bế nhánh giữa của cột sống lưng bằng thuốc là một thủ thuật xâm lấn tối thiểu, dùng một lượng nhỏ thuốc, chặn tạm thời đường dẫn truyền cảm giác đau của vùng lưng thông qua một hoặc nhiều nhánh giữa của các đốt sống lưng.
Mỗi rễ thần kinh đi ra khỏi lỗ liên hợp chia ra thành nhánh bụng và nhánh lưng. Nhánh lưng sau đó tiếp tục chia thành nhánh giữa (Medial branch, chi phối cho thành sau của cơ thể), và nhánh ngoài (chi phối cho thành bên và thành trước của cơ thể). Ngoài ra, nhánh giữa còn chi phối cảm giác cho khớp khối của đốt sống, là một nguyên nhân gây đau do thoái hóa cột sống thường gặp và hay bị bỏ sót.
Triệu chứng đau phía sau lưng và quanh mông đùi, có thể có nhiều nguyên nhân: trượt đốt sống, hẹp ống sống lưng, đau do đĩa đệm, thoát vị đĩa đệm, đau khớp cùng chậu và đau do khớp khối giữa các đốt sống lưng... Trong các nguyên nhân gây đau lưng, chụp MRI, xquang cột sống lưng có thể giúp chẩn đoán một số nguyên nhân như trượt đốt sống, hẹp ống sống, thoát vị đĩa đệm. Nếu người bệnh đau lưng nhiều, kéo dài trên 3 tháng, nhưng kết quả chụp phim lại không có chèn ép quá nhiều, mất vững đáng kể, thì khả năng rất cao là đau do nguyên nhân không thấy được trên phim, cụ thể là đau do nguyên nhân khối khớp.
Do quá trình thoái hóa cột sống, đau lưng mạn tính do nguyên nhân khối khớp thường đau vùng lưng, có thể đau ở một hoặc cả hai bên, gần đường giữa, đau nhiều khi ngửa kèm xoay lưng. Đau có thể lan xuống mông hoặc đùi, nhưng thường không lan đến đầu gối hay bàn chân. Các nghiệm pháp khám và chụp phim chủ yếu là để loại trừ các nguyên nhân gây đau khác ở vùng lưng chứ không giúp chẩn đoán đau do khối khớp. Biện pháp duy nhất để chẩn đoán đau lưng mạn tính do khối khớp là phong bế nhánh giữa cột sống lưng bằng thuốc để chẩn đoán.
- Nếu người bệnh có đáp ứng giảm đau >50% kéo dài trong 1−2 tuần, sẽ được kết luận là "Đau lưng mạn tính do nguyên nhân khối khớp" và có thể tiếp tục tiến đến các bước điều trị tiếp theo.


