Phiếu tóm tắt thông tin điều trị thuyên tắc phổi
1. Thuyên tắc phổi là gì?
Thuyên tắc phổi là sự tắc nghẽn mạch máu phổi, thường là do cục máu đông (còn gọi là huyết khối). Huyết khối có thể gây ra tắc nghẽn ở động mạch trung tâm của phổi hoặc các động mạch phổi nằm ở ngoại biên. Huyết khối có thể lớn hoặc nhỏ và có trường hợp nhiều huyết khối gây tắc ở nhiều nơi. Trong trường hợp huyết khối lớn gây tắc ở vị trí gần trung tâm của phổi thì được gọi là thuyên tắc phổi lớn. Đây là một tình trạng rất nặng có thể đe dọa tính mạng.
2. Nguyên nhân gây ra thuyên tắc phổi?
2.1. Nguyên nhân thường gặp là huyết khối tĩnh mạch sâu
Nguyên nhân chính trong hầu hết các trường hợp là do cục máu đông (huyết khối) đã hình thành trong một tĩnh mạch sâu, huyết khối này đi theo mạch máu và cuối cùng bị mắc kẹt lại một trong những mạch máu ở phổi. Hầu hết huyết khối tĩnh mạch sâu thường là tĩnh mạch chân hoặc tĩnh mạch chậu. Thỉnh thoảng, thuyên tắc phổi có thể do cục máu đông có nguồn gốc từ tĩnh mạch cánh tay, hoặc từ tim.
2.2. Các nguyên nhân khác
Trong một số hiếm trường hợp, tắc nghẽn mạch máu phổi không phải do cục máu đông gây ra mà là do tác nhân khác như:
Giọt mỡ từ tủy của xương bị gãy (nếu xương gãy là một xương lớn và dài như xương đùi).
Dị vật từ bơm tiêm không sạch như bơm tiêm chích ma túy.
Nước ối trong thai kỳ hoặc trong lúc sinh – tắc mạch ối (hiếm gặp).
Bóng khí lớn trong tĩnh mạch (hiếm gặp).
Một mảnh nhỏ khối u bị vỡ ra từ một khối u lớn trong cơ thể như trong ung thư.
3. Ai có thể mắc thuyên tắc phổi?
Đa số các trường hợp thuyên tắc phổi gây ra bởi huyết khối tĩnh mạch sâu. Vì vậy, người có nhiều nguy cơ mắc thuyên tắc phổi là chính là những người dễ bị huyết khối tĩnh mạch sâu. Một số yếu tố nguy cơ quan trọng là bất động nằm lâu, mắc bệnh lý nặng, người bệnh trải qua những phẫu thuật lớn (đặc biệt là phẫu thuật phụ khoa hay phẫu thuật vùng xương chậu và chân). Nguy cơ mắc phải huyết khối tĩnh mạch sâu hay thuyên tắc phổi trong bệnh viện có thể được giảm. Đáng kể nhờ vận động sớm và sử dụng các thuốc ngăn ngừa sự hình thành huyết khối ở những đối tượng có nguy cơ cao.
4. Các triệu chứng của thuyên tắc phổi là gì?
Khó thở với mức độ thay đổi từ nhẹ đến rất nặng, Đau ngực kiểu màng phổi (đau tăng khi hít thở sâu), ho ra máu, tim đập nhanh, nặng ngực sau xương ức, choáng, ngất.
Hiếm gặp hơn, trong những ca rất nặng, thuyên tắc phổi lớn có thể gây ngừng và dẫn đến tử vong.
5. Chẩn đoán thuyên tắc phổi như thế nào?
Chẩn đoán thuyên tắc phổi thường được nghĩ đến dựa trên triệu chứng và tiền căn bệnh lý của bạn. Ví dụ như, một người bệnh vừa trải qua phẫu thuật lớn, phải nằm tại chỗ bất động kéo dài và sau đó đột ngột bị khó thở, người đó có thể bị thuyên tắc phổi.
6. Những xét nghiệm sau đây có thể được sử dụng để giúp xác định chẩn đoán
Siêu âm mạch máu chi dưới: Siêu âm doppler tĩnh mạch chi dưới được sử dụng để giúp bác sĩ quan sát dòng chảy của máu trong tĩnh mạch chân và nơi bị tắc nghẽn. Đây là một xét nghiệm hữu ích vì nó đơn giản, không xâm lấn và có thể cho thấy được huyết khối tĩnh mạch sâu. Nếu phát hiện huyết khối tĩnh mạch sâu thì có thể nghi ngờ thuyên tắc phổi là nguyên nhân gây ra các triệu chứng khác (như khó thở hoặc đau ngực).
Xét nghiệm D-dimer trong máu: Xét nghiệm này giúp phát hiện sản phẩm phân hủy một cục huyết khối. Nếu nồng độ D-dimer trong máu cao, nhiều khả năng có một cục máu đông trong tĩnh mạch. Tuy nhiên không may là xét nghiệm này có thể dương tính trong một số tình huống khác, chẳng hạn như bạn mới phẫu thuật gần đây, hoặc đang mang thai.
Siêu âm tim: Siêu âm tim rất hữu ích cho những người bị thuyên tắc lớn, vì siêu âm có thể giúp nhìn thấy cục máu đông lớn trong phổi và hoặc gián tiếp thấy được ảnh hưởng của nó trên tim.
Chụp CT scanner đa đầu dò có cản quang (CTPA): CTPA một loại CTscan đa đầu dò, chụp được mạch máu phổi nhờ thuốc cản quang giúp nhìn thấy các động mạch phổi rõ hơn. CTPA hiện nay được xem là tiêu chuẩn vàng không xâm lấn để chẩn đoán thuyên tắc phổi.
7. Điều trị cho thuyên tắc phổi là gì?
Phần này chỉ bàn về thuyên tắc phổi do cục máu đông mà không bàn đến những nguyên nhân hiếm được liệt kê ở trên. Các phương pháp điều trị chủ yếu là:
7.1. Điều trị thuốc kháng đông
Thuốc chống đông thường được gọi là thuốc làm loãng máu. Tuy nhiên, nó không thực sự làm loãng máu. Nó làm thay đổi một số chất trong máu để ngăn chặn huyết khối hình thành. Nó cũng không hòa tan được huyết khối đã hình thành (như một số người nhầm lẫn). Thuốc chống đông ngăn chặn huyết khối ở phổi trở nên lớn hơn và ngăn ngừa hình thành huyết khối mới. Sau đó cơ chế tự sửa chữa của cơ thể có thể làm việc để phá vỡ huyết khối.
Điều trị thuốc chống đông thường được bắt đầu ngay lập tức (ngay sau khi nghi ngờ thuyên tắc phổi) để ngăn ngừa diễn tiến nặng hơn trong khi chờ đợi kết quả xét nghiệm.
7.2. Thuốc chống đông có hai dạng là dạng tiêm và viên uống.
Dạng tiêm là heparin chuẩn (heparin không phân đoạn) hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH). Heparin chuẩn được tiêm tĩnh mạch, có nghĩa là bơm thuốc trực tiếp vào tĩnh mạch – thường ở cánh tay. Nó được sử dụng cho thuyên tắc phổi có nguy cơ cao và những người bệnh có bệnh lý nhất định – chẳng hạn như bệnh thận mạn tính. Heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH – tên thương mại thường dùng lovenox®) được tiêm dưới da vùng bụng.
Thuốc uống thường là warfarin, sintrom® (acenocoumarol). Ngoài ra có thêm một số loại thuốc khác có tác dụng tương tự như warfarin có thể được sử dụng là rivaroxaban, apixapan và dabigatran.
Điều trị thuốc chống đông máu thường được bắt đầu ngay khi phát hiện thuyên tắc phổi và kéo dài cho đến ba tháng trong hầu hết các trường hợp. Đôi khi khoảng thời gian điều trị sẽ kéo dài hơn nếu người bệnh có nguy cơ cao bị thuyên tắc trở lại.
7.3. Điều trị hỗ trợ
Nghĩa là các biện pháp điều trị để giúp cơ thể đối phó với những ảnh hưởng của thuyên tắc phổi.
Oxy để giảm khó thở.
Trong một số trường hợp, truyền dịch tĩnh mạch để hỗ trợ tuần hoàn.
Theo dõi sát và nhập đơn vị chăm sóc tích cực có thể cần thiết nếu người bệnh mắc phải thuyên tắc phổi lớn và nguy cơ cao.
Các phương pháp điều trị nâng cao: Biện pháp này được sử dụng để điều trị thuyên tắc phổi nặng, đe dọa tính mạng. Các phương pháp này bao gồm: tiêu sợi huyết hệ thống, phẫu thuật lấy huyết khối, lấy huyết khối qua ống thông, truyền tiêu sợi huyết trực tiếp qua ống thông, chạy tuần hoàn ngoài cơ thể (ECMO).
