Phẫu thuật bóc tách động mạch chủ
1. Động mạch chủ là gì?
Tim co bóp đưa máu đến các cơ quan của cơ thể qua động mạch chủ. Có thể hình dung tim như một máy bơm, còn động mạch chủ là đường ống dẫn nước chính, dẫn máu đi nuôi cơ thể, các mạch máu cấp máu đến các cơ quan quan trọng đều xuất phát trực tiếp từ động mạch chủ.
Động mạch chủ ngực là tên gọi của phần động mạch chủ nằm trong lồng ngực. Tương tự, đoạn động mạch chủ nằm trong bụng là động mạch chủ bụng.
Động mạch chủ bụng
Động mạch chủ ngực xuống
Động mạch chủ ngực lên
Các nhánh của quai động mạch chủ
Các nhánh của quai động mạch chủ
Bóc tách động mạch chủ
Động mạch chủ ngực được chia làm 3 phần:
Động mạch chủ ngực lên là đoạn xuất phát đầu tiên từ tim, nằm phía trước.
Quai động mạch chủ là đoạn động mạch chủ ngực tiếp theo đoạn động mạch chủ ngực lên, cho các nhánh nuôi não và hai tay.
Động mạch chủ ngực xuống là đoạn sau phần quai, nằm sát cột sống, dẫn máu xuống bụng và hai chân.
Động mạch chủ bụng cung cấp máu cho ruột và các tạng trong bụng qua các nhánh của nó, sau đó chia đôi ở ngang rốn để đưa máu nuôi hai chân.
2. Ai dễ bị bệnh động mạch chủ?
Bệnh động mạch chủ có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên, ở người trưởng thành, nếu có những yếu tố nguy cơ sau, bạn có thể dễ bị bệnh động mạch chủ hơn những người khác:
Rối loạn chuyển hóa mỡ (còn gọi là mỡ máu cao, gan nhiễm mỡ).
Đái tháo đường (tiểu đường).
Tăng huyết áp (tăng xông, cao máu).
Thừa cân, béo phì.
Hút thuốc lá.
Ít vận động.
Giới nam
Tuổi cao trên 65
3. Bóc tách động mạch chủ là gì?
Bình thường, động mạch chủ có dạng hình ống, thành động mạch chủ được tạo bởi 3 lớp áo – áo ngoài, áo giữa, áo trong. Khi thành động mạch chủ bị yếu, hoặc khi huyết áp tăng cao đột ngột, lớp áo trong bị xé rách, máu đi vào lớp áo giữa, tách hai lớp này ra tạo nên lòng thứ hai song song với lòng thật (lòng giả).
Bóc tách động mạch chủ được chia làm 2 loại: Bóc tách động mạch chủ type A và bóc tách động mạch chủ type B. Bóc tách có liên quan đến động mạch chủ ngực lên được gọi là type A, không liên quan đến động mạch chủ ngực lên được gọi là type B.
4. Bóc tách động mạch chủ biểu hiện như thế nào?
Bóc tách động mạch chủ thường biểu hiện đột ngột bằng cảm giác đau dữ dội, như xé rách tại vùng cơ thể tương ứng với vị trí động mạch chủ bị tổn thương (ví dụ đau ngực nếu bóc tách động mạch chủ ngực lên, đau lưng nếu bóc tách động mạch chủ ngực xuống, đau bụng nếu bóc tách động mạch chủ bụng). Có thể kèm theo khó thở, vã mồ hôi, chóng mặt, ngất.
5. Hậu quả của bóc tách động mạch chủ?
Bệnh nhân có thể bị đột tử do vỡ lòng giả hoặc do lòng giả chèn vào các mạch máu nuôi tim, nuôi não, hoại tử các cơ quan do tắc các mạch máu nuôi tạng (gan, thận, ruột), hoại tử chi do tắc mạch máu nuôi chi.
Động mạch chủ ngực lên
Động mạch chủ ngực lên và quai động mạch chủ
Quai động mạch chủ và động mạch chủ ngực xuống
Động mạch chủ ngực xuống
Máu giữa tim và màng ngoài tim
Vết rách ở thành ĐMC
Máu trong thành động mạch chủ
Màng ngoài tim bao quanh tim
Thất trái
Van động mạch chủ
Nhĩ trái
Loét xuyên thành động mạch chủ ngực xuống
Bóc tách động mạch chủ
6. Điều trị bóc tách động mạch chủ như thế nào?
Nếu nghi ngờ bóc tách động mạch chủ ngực, bác sĩ sẽ cho bạn chụp phim cắt lớp (MSCT) có cản quang khảo sát toàn bộ động mạch chủ và các mạch máu chính xuất phát từ động mạch chủ.
Nếu bệnh nhân được chẩn đoán có bóc tách động mạch chủ, phẫu thuật sẽ phải tiến hành ngay nếu là bóc tách động mạch chủ type A. Mục tiêu của phẫu thuật là xóa bỏ lớp rách trên thành động mạch chủ. Thay đoạn động mạch chủ ngực lên và quai động mạch chủ hoăc chỉ một trong hai bằng ống ghép nhân tạo.
Nếu bệnh nhân bị bóc tách động mạch chủ ngực type B, bác sĩ sẽ điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật với những trường hợp bóc tách có biến chứng.
Các biến chứng của phẫu thuật động mạch chủ hiện nay ở mức thấp (<10%).
Ngày nay, y học đã phát triển phương pháp đặt stent graft (can thiệp nội mạch). Bác sĩ phẫu thuật sẽ rạch một đường nhỏ ở hai bên đùi vùng bẹn, luồn vào động mạch ở đùi ống dẫn mang ống ghép, đưa lên chỗ rách và bung ống ghép ra, che phủ lỗ rách, làm mất sự thông thương giữa lòng giả và lòng thật. Theo thời gian, máu trong lòng giả sẽ đông lại và không còn nguy hiểm với cơ thể.
Với phương pháp đặt stent graft, bạn sẽ không còn phải mang trên mình một vết sẹo dài, sẽ tránh được những đau đớn sau phẫu thuật. Tuy nhiên, hiện nay phương pháp này chỉ áp dụng ở bóc tách động mạch chủ ngực đoạn quai và đoạn xuống, và giá thành còn khá cao.
Chỉ định can thiệp nội mạch cho bóc tách động mạch chủ type B: với những trường hợp bóc tách động mạch chủ type B có biến chứng bệnh nhân sẽ được can thiệp nội mạch đông mạch chủ ngực cấp cứu hoặc bán cấp, trường hợp bóc tách động mạch chủ type B không biến chứng các bác sĩ sẽ cân nhắc can thiệp nội mạch động mạch chủ ngực điều trị bóc tách động mạch chủ ở giai đoạn bán cấp của bệnh (từ 2 tuần đến 3 tháng tính từ thời điểm khởi phát bệnh).
Đối với trường hợp bóc tách có liên quan đến các nhánh của quai động mạch bệnh nhân sẽ được phẫu thuật kết hợp can thiệp. Phẫu thuật tại phòng mổ chuyển vị một hoặc hai nhánh hoặc toàn bộ ba nhánh động mạch của quai động mạch chủ (động mạch dưới đòn, động mạch cảnh chung trái, động mạch thân cánh tay đầu) qua đường rạch da 3-5cm một bên hoặc hai bên cổ hoặc mở ngực giữa (cưa xương ức) và can thiệp đặt ống ghép nội mạch động mạch chủ tại phòng can thiệp nội mạch.
Các biến chứng của stent graft động mạch chủ hiện nay ở mức thấp: 5-10%
Khi nhập viện, bạn sẽ được gặp bác sĩ phẫu thuật để được tư vấn về bệnh lý của mình, các phương án phẫu thuật hoặc can thiệp có thể thực hiện được, các biến chứng có thể gặp của mỗi phương án. Tỉ lệ tai biến và biến chứng thay đổi trên từng bệnh nhân, bác sĩ phẫu thuật sẽ tính toán các nguy cơ này và thông báo đối với từng. trường hợp cụ thể.
