Phiếu thông tin bệnh ung thư vú
1. Chuẩn đoán ung thư vú
1.1. Đến khám ngay khi có bất thường ở vú
Tình huống sớm: Phát hiện qua tầm soát bằng nhũ ảnh, siêu âm hoặc phát hiện tình cờ qua khám sức khỏe tổng quát.
Tình huống thường gặp: Khối bướu vú hoặc tiết dịch núm vú là triệu chứng thường gặp.
Tình huống trễ: Bướu tiến triển tại chỗ tại vùng: da trên bướu, núm vú bị co kéo, xâm lấn; dấu da cam; các nốt vệ tinh trên da; bướu loét ra da, hoặc chảy máu, nhiễm trùng bướu. Xuất hiện hạch nách hoặc hạch trên đòn. Giai đoạn di căn xa có thể gặp các triệu chứng như khó thở, gãy xương bệnh lý, đau đầu, yếu liệt chi, báng bụng …
1.2. Khám vú (Có thể khám tư thế ngồi hoặc nằm)
Người bệnh ngồi đối diện với bác sĩ:
Tay người bệnh buông thõng hai bên:
Quan sát sự đối xứng, đường cong vú, phát hiện tụt núm vú, sẹo mổ và tổn thương da.
Tay người bệnh để trên đầu, hoặc chống hai bên hông:
Nhìn tìm dấu co rút ở da và biến dạng vú do bướu
Khám vú 2 bên :
Sờ bướu vú, ghi nhận kích thước, mật độ, bờ, di động, vị trí và ghi nhận các khối u lân cận.
Khám vú đối bên so sánh sự đối xứng giữa hai vú
Khám vùng thượng đòn đánh giá hạch
Bác sĩ nâng tay người bệnh:
Khám hạch nách hai bên.
Người bệnh nằm ngữa, tay để trên đầu:
Khám vú tương tự khi người bệnh ngồi
1.3. Các phương tiện hình ảnh
Nhũ ảnh
Siêu âm vú
MRI vú
1.4. Các kỹ thuật sinh thiết
Đa số các tổn thương ở vú phát hiện qua khám lâm sàng hoặc hình ảnh vú được chỉ định sinh thiết để quyết định hướng xử trí. Có nhiều phương pháp sinh thiết có các ưu điểm và hạn chế khác nhau. Sự lựa chọn phương pháp sinh thiết tùy vào mức độ nghi ngờ ác tính, kích thước, vị trí bướu, chuyên gia tế bào – bệnh học và mong muốn của người bệnh.
Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ
Sinh thiết lõi kim
Sinh thiết trọn bướu
Sinh thiết một phần bướu
2. Phân giai đoạn ung thư vú
Theo Uỷ ban Liên hợp về Ung thư Hoa Kỳ (American Joint Committee on Cancer – AJCC), ung thư vú được phân giai đoạn dựa trên hệ thống TNM với “T” liên quan tới bướu (Tumor), “N” liên quan tới hạch (Node), và “M” liên quan tới di căn xa (Metastasis).
3. Phân giai đoạn ung thư vú theo loại mô học
Ung thư vú là một nhóm bệnh không đồng nhất, với nhiều thay đổi về lâm sàng, mô học, diễn tiến bệnh, và dự hậu. Dựa vào đặc điểm xâm lấn màng đáy, người ta chia ung thư vú thành: ung thư vú tại chỗ và ung thư vú xâm lấn. Trong đó, ung thư vú xâm lấn có nhiều loại mô học khác nhau.
Việc phân loại theo mô học của ung thư vú giúp ích cho việc tiên lượng bệnh. Các loại mô học có tiên lượng tốt như: carcinôm dạng ống nhỏ, dạng sàng, dạng nhầy, dạng nang tuyến, v.v. Ngược lại, các loại mô học như: dạng viêm, dạng carcinôm – sarcôm, thường biệt hóa kém, lan tràn sớm, và có dự hậu xấu.
4. Điều trị ung thư vú
4.1. Phẫu thuật
Phẫu thuật là mô thức điều trị chính với ung thư vú giai đoạn sớm. Việc lựa chọn kĩ thuật nào sẽ phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của bướu và mong muốn của người bệnh.
Phẫu thuật bảo tồn
Liệu pháp bảo tồn bao gồm phẫu thuật bảo tồn phối hợp với xạ trị, thường được áp dụng với các bướu nhỏ và thuận lợi cho phẫu thuật bảo tồn. Mục đích của liệu pháp này là vừa đảm bảo an toàn về mặt ung thư học so với đoạn nhũ, vừa giữ được thẩm mỹ của vú. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đã chứng tỏ hiệu quả tương đương về mặt sống còn toàn bộ và sống còn không bệnh giữa liệu pháp bảo tồn và đoạn nhũ.
Với các người bệnh mong muốn áp dụng liệu pháp bảo tồn, nhưng lại không thoả mãn các tiêu chí tại thời điểm chẩn đoán, hoá trị tân hỗ trợ sẽ là một giải pháp, vừa giúp tăng tỉ lệ bảo tồn tuyến vú mà vừa đạt được tiên lượng sống còn tốt.
Phẫu thuật đoạn nhũ
Đoạn nhũ, được chỉ định cho các người bệnh không thích hợp với liệu pháp bảo tồn hoặc người bệnh mong muốn đoạn nhũ. Sau đoạn nhũ thì tái tạo tuyến vú là nhu cầu chính đáng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh. Đa số các người bệnh sẽ lựa chọn tái tạo vú tức thì sau khi đoạn nhũ, tuy vậy, một số ít các trường hợp sẽ không lựa chọn tái tạo (người bệnh lớn tuổi, từ chối tái tạo v.v.)
Can thiệp hạch nách
Nguy cơ di căn hạch nách liên quan đến kích thước và vị trí bướu, độ mô học, và sự xâm lấn mạch bạch huyết của bướu.
Phương pháp can thiệp hạch nách phụ thuộc vào mức độ nghi ngờ di căn hạch trước mổ:
FNA hoặc sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm là cần thiết để xác định bản chất hạch. Nếu sinh thiết hạch dương tính, nạo hạch nách nên thực hiện.
Nếu sinh thiết hạch âm tính, hoặc trên lâm sàng không có hạch nghi ngờ di căn, người bệnh không cần đánh giá gì thêm về hạch trước phẫu thuật, mà sẽ được sinh thiết hạch gác cửa khi phẫu thuật.
Xạ trị
Đối với ung thư vú nói chung, xạ trị bổ túc thường được thực hiện sau phẫu thuật và hóa trị nhằm cải thiện tỉ lệ tái phát tại chỗ, tại vùng, và tăng kết quả sống còn của người bệnh.
Xạ trị bảo tồn sau phẫu thuật bảo tồn: Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh được lợi ích làm giảm tỉ lệ tái phát của xạ trị bảo tồn sau phẫu thuật bảo tồn trong ung thư vú. Do đó, tất cả các người bệnh sau phẫu thuật bảo tồn đều được xạ trị bảo tồn.
Xạ trị bổ túc sau phẫu thuật đoạn nhũ: Đã có nhiều nghiên cứu lâm sàng chứng minh được xạ trị bổ túc giúp tăng tỉ lệ kiểm soát tại chỗ tại vùng trong ung thư vú, đặc biệt ở nhóm có di căn hạch.
Điều trị toàn thân: thuốc hóa trị, sinh học
Để quyết định có điều trị toàn thân hay không, cần phải cân bằng giữa nguy cơ tái phát của bệnh so với lợi ích của điều trị mang lại, cũng như các độc tính của điều trị. Qua các nghiên cứu, có nhiều yếu tố tiên lượng nguy cơ tái phát và di căn trong ung thư vú như: tuổi người bệnh, kích thước bướu, grad mô học, số hạch bị di căn, và bản chất sinh học của bướu.
Điều trị toàn thân có thể trước hoặc sau mổ tùy giai đoạn bệnh, đặc điểm bướu và phương pháp phẫu thuật lựa chọn.
Liệu pháp uống thuốc điều trị kháng nội tiết
Sau khi hoá trị, một số người bệnh ung thư vú có thể cần phải uống thuốc nội tiết hằng ngày trong thời gian 5 năm. Lợi ích của liệu pháp nội tiết đã được chứng minh bằng nhiều nghiên cứu, giúp giảm tỉ lệ tái phát và tử vong do ung thư vú trên người bệnh ung thư vú dựa trên đặc điểm hóa mô miễn dịch.
