Phiếu thông tin bệnh bướu giáp nhân lành tính
1. Định nghĩa
Bướu giáp lành tính là những khối u (bướu) chứa đầy chất rắn hoặc chất lỏng hình thành trong tuyến giáp - một tuyến nhỏ nằm trước vùng cổ, ngay trên xương ức. Hầu hết các khối u tuyến giáp là lành tính nhưng có khoảng 5% là ác tính (ung thư tuyến giáp).
2. Nguyên nhân
Do thiếu iod (bướu giáp dịch tễ) thường do nước uống trong vùng bị thiếu iod, tuy nhiên có nhiều vùng trên thế giới không thiếu iod ngay cả vùng thừa iod vẫn có thể bị bướu giáp dịch tễ, ngoài ra không phải tất cả người sống ở vùng thiếu iod đều bị bướu giáp đơn thuần
Do tác dụng của các chất làm phì đại tuyến giáp: Một số loại thức ăn như quả su có chứa những chất làm lớn tuyến giáp, giải thích sự xuất hiện bướu giáp dịch tễ ở một số vùng. Ngoài ra một số chất như thiocyanat, acid para-amino-salicylic (PAS), muối lithium, cobalt, thuốc kháng giáp tổng hợp có thể gây bướu giáp đơn thuần.
3. Dịch tễ học
Nhân giáp là bệnh rất phổ biến trên thế giới cũng như ở nước ta. Tỷ lệ phát hiện nhân giáp từ 20% – 76% trong cộng đồng
Nhân giáp thường gặp ở người lớn, nữ gấp 4 lần so với nam, tần suất bướu giáp nhân tăng theo tuổi và gặp nhiều ở vùng có thiếu hụt iod.
4. Triệu chứng
Bệnh thường không có triệu chứng. Bướu giáp có thể do người bệnh hoặc người xung quanh phát hiện, hoặc được phát hiện khi khám sức khỏe tổng quát.
Bướu lớn có thể gây các dấu hiệu chèn ép cơ quan xung quanh như:
Chèn ép khí quản gây khó thở.
Chèn ép dây thần kinh quặt ngược thanh quản gây nói khó, nói khàn.
Chèn ép tĩnh mạch chủ trên gây phù kiểu áo khoác: phù ở mặt, cổ, lồng ngực, hai tay.
5. Chẩn đoán
5.1. Lâm sàng
Khám tuyến giáp nếu tuyến giáp lớn có thể thấy ở giữa cổ, ranh giới rõ, không dính vào da, tuyến lớn lan tỏa hoặc dạng nốt, di động theo nhịp nuốt, không đau. Một tuyến giáp có thể tích bình thường không bao giờ sờ thấy dù người bệnh gầy.
Khám lâm sàng, kết hợp nhìn và sờ nắn. Người khám có thể đứng phía sau người bệnh, dùng hai tay để sờ tuyến giáp. Khi sờ cần định rõ ranh giới, độ lớn, mật độ của bướu, cùng lúc cho người bệnh nuốt, bướu sẽ di động theo nhịp nuốt.
Sau khi sờ bướu giáp, có thể dùng thước dây đo vòng cổ của người bệnh, đo ngang qua nơi tuyến giáp lớn nhất, giúp theo dõi diễn biến qua điều trị.
5.2. Cận lâm sàng
Siêu âm tuyến giáp: Siêu âm tuyến giáp là thăm dò hữu ích trong đánh giá tuyến giáp, giúp đánh giá hình thái và độ lớn tuyến giáp. Siêu âm cho biết số lượng, hình dạng nhân, đồng thời giúp hướng dẫn chọc hút bằng kim nhỏ để chẩn đoán tế bào học. Siêu âm giúp theo dõi sau điều trị.
Chụp cắt lớp vi tính vùng cổ-ngực: không áp dụng thường quy cho tất cả trường hợp. Chỉ định trong trường hợp bướu giáp thòng, lạc chỗ trong ngực, hoặc nghi ngờ có chèn ép đường thở, hạch vùng cổ mà siêu âm không khảo sát được.
Xét nghiệm chức năng tuyến giáp: TSH, T3, T4
Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA): FNA là phương pháp hiệu quả nhất trong chẩn đoán bản chất của một nhân giáp. Thực hiện FNA dưới hướng dẫn siêu âm cho độ chính xác và an toàn cao
