Những lưu ý khi sử dụng thuốc sinh học ở người bệnh cơ xương khớp tự miễn
1. Thuốc sinh học là gì?
Thuốc sinh học là các protein do con người tạo ra, có nguồn gốc từ sinh vật (con người, động vật) hoặc các sản phẩm của nó. Thuốc nhắm vào các phần chuyên biệt trong hệ thống miễn dịch của người bệnh để điều trị.
2. Lợi ích và nguy cơ của thuốc sinh học
Thuốc sinh học có thể tác động đến hệ miễn dịch, vì vậy giúp giảm quá trình viêm, giảm các triệu chứng của các bệnh lý tự miễn, kiểm soát được bệnh và giảm tàn phế, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Tuy nhiên, một số nguy cơ/tác dụng phụ mà điều trị bằng thuốc sinh học có thể mang lại do ảnh hưởng lên hệ miễn dịch, bao gồm nhiễm trùng (viêm hô hấp trên, viêm phổi, nhiễm trùng tiêu hóa, da), tái hoạt viêm gan hoặc lao. Ngoài ra, thuốc có thể gây ra các phản ứng khi tiêm truyền/dị ứng. Một số tác dụng phụ khác, tuy hiếm gặp hơn, bao gồm buồn nôn, nôn, tiêu chảy và ho.
3. Những bệnh cơ xương khớp tự miễn cần điều trị thuốc sinh học
Thuốc sinh học có thể sử dụng trong nhiều bệnh lý khác nhau. Trong nhóm bệnh cơ xương khớp tự miễn, thuốc sinh học được chỉ định trong nhiều bệnh lý cơ xương khớp tự miễn như: viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp vảy nến, viêm khớp tự phát thiếu niên, Lupus ban đỏ hệ thống, các viêm mạch tự miễn hệ thống, bệnh Still khởi phát ở người lớn...
4. Khi nào cần điều trị thuốc sinh học?
Hệ thống miễn dịch đóng vai trò như “người gác cổng”, giúp bảo vệ chúng ta khỏi các tác nhân gây bệnh. Nhưng khi bị rối loạn, cơ thể sẽ mất khả năng phân biệt lạ - quen và quay lại tấn công chính các tế bào của cơ thể, từ đó gây ra bệnh tự miễn. Phát hiện sớm và điều trị tích cực có thể giúp làm chậm tiến triển bệnh, ngăn ngừa các biến chứng và tình trạng tàn phế. Vì vậy, nếu bạn mắc các bệnh cơ xương khớp tự miễn như viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp cột sống,… và được đánh giá ở mức từ trung bình đến nặng, không đáp ứng với các loại thuốc chống thấp khớp thay đổi hoạt tính bệnh (DMARDs) truyền thống, đó là lúc cần điều trị thuốc sinh học.
5. Thuốc sinh học gồm những loại nào?
5.1. Các DMARD sinh học gốc (Biological Original DMARD)
Thuốc ức chế cytokine:
Thuốc kháng yếu tố hoại tử u nhóm alpha (TNF-α): Etanercept (Enbrel), Infliximab (Remicade), Adalimumab (Humira), Golimumab (Simponi), Certolizumab Pegol (Cimzia).
Thuốc ức chế interleukin-6 (IL-6): Tocilizumab (Actemra).
Thuốc ức chế interleukin-1 (IL-1): Anakira (Kineret).
Thuốc ức chế interleukin-12/23 (IL-12/23): Ustekinumab (Stelara).
Thuốc ức chế interleukin-17A (IL-17A): Secukinumab (Fraizeron).
Thuốc ức chế tế bào lympho B: Rituximab, Belimumab.
Thuốc ức chế tế bào lympho T: Abatacept (Orencia).
5.2. Thuốc phân tử nhỏ ức chế Janus kinase (JAK)
Thuốc ức chế Janus kinase (JAK) là nhóm thuốc phân tử nhỏ tổng hợp nhắm đích được sử dụng bằng đường uống, mang lại hiệu quả vượt trội và tính thuận tiện. Ví dụ như: tofacitinib, baricitinib, upadacitinib…
5.3. Các thuốc tương đương sinh học với các DMARD sinh học (Biosimilar DMARD)
Các thuốc tương đương sinh học là chất có cấu trúc gần giống thuốc sinh học gốc nhưng giá thành rẻ hơn. Các chuyên gia tin rằng các thuốc này có thể làm giảm chi phí và hy vọng sẽ giúp nhiều người tiếp cận được dễ dàng loại thuốc họ cần. FDA đã phê duyệt 28 biosimilars của các thuốc infliximab, etanercept, adalimumab…
6. Cần chuẩn bị những gì trước khi điều trị thuốc sinh học?
Việc sàng lọc thích hợp trước khi bắt đầu liệu pháp sinh học rất quan trọng, giúp hạn chế tác dụng phụ và những biến chứng xảy ra do thuốc, đặc biệt là tình trạng nhiễm trùng tiềm ẩn. Người bệnh sẽ được giải thích về tình trạng bệnh, tư vấn về lựa chọn thuốc, lợi ích và nguy cơ sử dụng thuốc sinh học, đặc biệt là vấn đề tuân thủ điều trị. Ngoài ra, trước khi khởi động điều trị thuốc sinh học, bác sĩ sẽ tư vấn cho người bệnh thực hiện một số xét nghiệm bao gồm:
Xét nghiệm máu: Công thức máu, chức năng gan, chức năng thận.
Tầm soát viêm gan B, viêm gan C, HIV, lao tiềm ẩn (IGRA).
X-quang ngực thẳng.
Các xét nghiệm đặc hiệu khác tùy theo tình trạng của người bệnh.
Bên cạnh đó, bác sĩ còn tầm soát các chống chỉ định điều trị thuốc sinh học bao gồm: mang thai, bệnh ung thư có tiên lượng sống < 5 năm, suy tim sung huyết NYHA III, IV… Đồng thời, điều trị ổn định các bệnh đồng mắc, nhiễm trùng và tư vấn chủng ngừa… trước khi khởi động thuốc sinh học cho người bệnh.
7. Điều trị thuốc sinh học trong bao lâu? Có thể ngưng điều trị được không?
Điều trị thuốc sinh học sẽ giúp làm giảm triệu chứng và kiểm soát được bệnh cơ xương khớp tự miễn, chứ không điều trị khỏi hoàn toàn bệnh. Do đó, điều trị thuốc sinh học cần kéo dài. Tùy theo từng trường hợp, nếu bệnh được kiểm soát ổn định, các bác sĩ có thể cân nhắc giảm liều thuốc hoặc giãn thời gian giữa hai lần điều trị. Hiện nay, chưa có khuyến cáo nào về việc ngưng hoàn toàn điều trị sinh học.
Ngưng điều trị thuốc sinh học sẽ làm các triệu chứng của bệnh xấu đi hoặc bùng phát trở lại. Trong một số trường hợp nhất định, các bác sĩ có thể ngưng ngắn hạn/trì hoãn điều trị thuốc sinh học như:
Nhiễm trùng
Tiêm ngừa một số loại vaccin
Phẫu thuật
Thai kỳ
8. Sau bao lâu thì điều trị thuốc sinh học có hiệu quả?
Đáp ứng của thuốc sinh học sau khi khởi đầu điều trị sẽ tùy thuộc vào từng trường hợp người bệnh. Có thể triệu chứng của bệnh sẽ giảm sớm sau 1 tuần điều trị, tuy nhiên, cũng có trường hợp đáp ứng xảy ra muộn hơn có thể sau 12 tuần điều trị. Thông thường, có thể mất 3 đến 4 tháng để có thể thấy sự cải thiện rõ và các triệu chứng sẽ cải thiện dần theo thời gian. Nếu triệu chứng không cải thiện sau 3 đến 4 tháng, các bác sĩ có thể sẽ cân nhắc để đổi sang một điều trị khác.
9. Có nên tiêm ngừa khi điều trị thuốc sinh học?
Người bệnh mắc các bệnh cơ xương khớp tự miễn sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng do nhiều nguyên nhân: tình trạng suy giảm miễn dịch do bệnh gây ra, các bệnh đồng mắc, sử dụng glucocorticoid dài hạn và các liệu pháp ức chế miễn dịch. Nguy cơ này sẽ tăng lên khi sử dụng thuốc sinh học. Bên cạnh đó, việc sử dụng thuốc sinh học có thể làm giảm đáp ứng miễn dịch đối với vắc-xin. Vì vậy, trước khi bắt đầu sử dụng DMARD cổ điển và thuốc sinh học, người bệnh nên được tiêm ngừa các loại vắc-xin bất hoạt hay còn gọi vắc-xin chết (phế cầu, cúm và viêm gan B), vắc-xin tái tổ hợp (HPV) và vắc-xin sống giảm độc lực (herpes zoster). Việc tiêm ngừa vắc-xin nên được thực hiện trong lúc bệnh đang ổn định và trước khi bắt đầu sử dụng các thuốc sinh học.
Đối với vắc-xin cúm, cần ngưng thuốc methotrexate 2 tuần trước và sau khi chủng ngừa cúm sẽ cải thiện khả năng sinh miễn dịch của vắc-xin.
Các loại vắc-xin bất hoạt (ví dụ: ho gà, thương hàn, bại liệt, bệnh dại, viêm gan A) có thể được tiêm ngừa một cách an toàn trong khi các loại vắc-xin sống giảm độc lực (ví dụ: sởi, quai bị, rubella, đậu mùa, thủy đậu, lao, cúm) nên được chủng ngừa 4 tuần trước khi dùng thuốc sinh học.
Đối với thuốc ức chế tế bào B, vắc-xin nên tiêm tốt nhất trước khi điều trị. Người bệnh chưa được chủng ngừa khi đang điều trị thuốc ức chế tế bào B, vắc-xin nên được tiêm vào thời gian: ít nhất 6 tháng sau khi bắt đầu điều trị thuốc và 4 tuần trước đợt điều trị tiếp theo.
Những thai phụ được điều trị với thuốc sinh học trong nửa tháng sau của thai kỳ thì con của họ nên tránh dùng các loại vắc-xin sống giảm độc lực trong 6 tháng đầu đời.
10. Có thể phẫu thuật khi điều trị thuốc sinh học?
Hội Thấp khớp học Hoa Kì (ACR) khuyến cáo rằng nên dừng thuốc sinh học ít nhất một tuần trước phẫu thuật và khởi động lại một tuần sau phẫu thuật. Nhìn chung, điều này phụ thuộc vào loại thuốc đang sử dụng. Do đó, đối với các cuộc phẫu thuật theo chương trình, bạn nên báo cho bác sĩ điều trị của mình để được hướng dẫn dùng thuốc một cách tốt nhất. Người bệnh đang điều trị thuốc sinh học nên được lên kế hoạch phẫu thuật tại thời điểm dự kiến sử dụng thuốc sinh học kế tiếp. Riêng đối với Rituximab, cần phải ngưng thuốc 3-6 tháng trước phẫu thuật chương trình. Thuốc sinh học được khuyến cáo dùng lại sau phẫu thuật khi tình trạng vết thương lành tốt (thường khoảng 14 ngày sau phẫu thuật), khi các dụng cụ được lấy ra ngoài và không có bằng chứng của nhiễm trùng.


