Phiếu tóm tắt thông tin điều trị viêm nội tâm mạc nhiễm trùng
1. Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng là gì?
Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng là một tình trạng nhiễm trùng nặng và nguy hiểm, vi khuẩn tấn công màng trong của tim hoặc mạch máu gây nên những tổn thương tại chỗ và có thể theo dòng máu đi xa tạo ổ nhiễm/tắc mạch.
Tỉ lệ mắc bệnh trung bình là 3-6/100.000 người và ở người tiêm chích ma túy là 1.6/100.000 người mỗi năm.
Tuổi trung bình từ 36-69, tỉ lệ mắc bệnh tăng theo tuổi (5/100.000 người ở độ tuổi dưới 50 tuổi; 15/100.000 người độ tuổi trên 65); tỉ lệ nam/nữ là 2/1; tỉ lệ tử vong trung bình trong bệnh viện là 16% (11-26%).
2. Nguyên nhân gây viêm nội tâm mạc nhiễm trùng
Đa số các trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm trùng do vi trùng gây nên. Vi trùng này có thể xâm nhập từ một vị trí khác của cơ thể để vào máu và đến tim như ổ nhiễm trùng ở răng, xoang mặt, nhiễm trùng da, phẫu thuật đường ruột, tiêm truyền không vô khuẩn,… Một số trường hợp khác, ít gặp hơn, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng được gây ra bởi vi nấm hoặc các tác nhân không điển hình, hiếm hơn nữa có thể không do vi sinh vật (viêm nội tâm mạc vô trùng). Khi đó cần phải dùng các biện pháp nuôi cấy đặc biệt hoặc sinh thiết/cấy trực tiếp mẫu sùi.
Một số đối tượng đặc biệt sẽ có nguy cơ mắc viêm nội tâm mạc nhiễm trùng cao hơn người bình thường. Đó là những những người bệnh bệnh tim bẩm sinh (thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống động mạch,…) bệnh van tim, người tiêm chích ma túy, suy giảm miễn dịch, nhiễm trùng huyết,…
3. Triệu chứng của bệnh
Biểu hiện của viêm nội tâm mạc nhiễm trùng rất đa dạng và không đặc hiệu tùy theo cách khởi phát và diễn tiến bệnh. Chính vì vậy hầu hết các người bệnh thường đến bệnh viện trễ hoặc dễ chẩn đoán sót nếu không phải bác sĩ chuyên khoa và thăm dò đầy đủ.
Sốt: Cũng như bất kì loại nhiễm trùng nào khác. Sốt là triệu chứng thường gặp trong viêm nội tâm mạc nhiễm trùng. Sốt cao trên 38,5oC là một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh. Đặc biệt trên người bệnh có bệnh tim từ trước kèm theo sốt thì nên nghĩ đến viêm nội tâm mạc nhiễm trùng. Sốt cơn hoặc liên tục kéo dài có thể vài tuần đến vài tháng trước khi bệnh được chẩn đoán và điều trị thích hợp.
Khó thở: khi nhiễm trùng gây ra những tổn thương trong tim như hẹp van tim hoặc hở van tim nặng, suy tim cấp, rò trong tim,…có thể gây ra khó thở cấp. Người bệnh sẽ giảm khả năng hoạt động gắng sức, khó thở phải ngồi. Khó thở có thể kèm theo ho, giảm SpO2.
Yếu liệt/chóng mặt/nói khó/đau đầu: các triệu chứng thần kinh có thể xuất hiện khi vi trùng và mảng sùi đi theo dòng máu lên não gây tắc mạch, vỡ phình mạch não gây xuất huyết não.
Tiểu máu: không phải là triệu chứng thường gặp trong viêm nội tâm mạc nhiễm trùng
Đau bụng: khi thuyên tắc mạch máu ở thận, lách
Ngoài ra viêm nội tâm mạc nhiễm trùng có thể được phát hiện tình cờ khi siêu âm tim thấy sùi.
4. Các xét nghiệm cần làm
Cấy máu tìm tác nhân gây bệnh là xét nghiệm quan trong bắt buột phải thực hiện ở tất cả người bệnh viêm nội tâm mạc nhiễm trùng. Do đặc trưng của bệnh, người bệnh sẽ được lấy máu nhiều lần trong ngày hoặc trong nhiều ngày liên tiếp để tăng tính chính xác của chẩn đoán.
Siêu âm tim, siêu âm qua thực quản: xét nghiệm chẩn đoán quan trọng để đánh giá các tổn thương tại tim và cung cấp các thông tin về chỉ định phẫu thuật
Chụp CT/MRI: hỗ trợ tìm sùi, đường rò trong tim ở những trường hợp khó, đánh giá tổn thương mạch máu kèm theo hoặc tìm tắc mạch ở những cơ quan khác.
Soi đáy mắt tìm tổn thương mắt do viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.
Xét nghiệm nước tiểu: tìm dấu hiệu viêm cầu thận trong viêm nội tâm mạc nhiễm trùng
X-quang ngực: đánh giá tổn thương phổi kèm theo
Siêu âm bụng: gợi ý tắc mạch lách, thận,…
Các xét nghiệm máu khác: góp phần chẩn đoán và cho thông tin về mức độ nặng của bệnh.
Ngoài ra, tùy theo tình trạng và diễn tiến bệnh mà người bệnh sẽ được bác sĩ chỉ định thực hiện thêm hoặc lặp lại các xét nghiệm cần thiết.
5. Điều trị viêm nội tâm mạc nhiễm trùng bằng cách nào và khi nào cần phẫu thuật?
Điều trị cơ bản cho người bệnh viêm nội tâm mạc nhiễm trùng là kháng sinh. Tùy theo từng loại vi khuẩn mà sẽ có một hoặc nhiều loại kháng sinh cần được sử dụng. Hầu hết các trường hợp kháng sinh sẽ được đưa vào cơ thể qua đường truyền tĩnh mạch trong thời gian dài (2-4 tuần) vì vậy người bệnh có thể phải nằm viện lâu để đảm bảo việc điều trị thích hợp
Bên cạnh điều trị bằng kháng sinh, có thể người bệnh cần thêm những điều trị nâng đỡ và giảm triệu chứng khác như giảm đau, hạ sốt, giảm khó thở, dinh dưỡng hỗ trợ…
Phẫu thuật là lựa chọn cần thiết khi ổ nhiễm trùng trong tim quá lớn gây biến chứng nặng hoặc khó kiểm soát bằng kháng sinh. Nếu tình trạng viêm nội tâm mạc nhiễm trùng của người bệnh gây khó thở liên tục, nặng dần mà không thể điều trị bằng thuốc, bác sĩ sẽ xem xét phẫu thuật sớm. Bên cạnh đó, nếu hình ảnh siêu âm/CT ghi nhận sùi trong tim quá lớn, nguy cơ gây thuyên tắc cao, người bệnh cũng cần được mổ sớm để tránh biến chứng. Một trường hợp nữa là sùi gây thuyên tắc nhiều nơi với nhiễm trùng lan rộng khó kiểm soát cũng cần được can thiệp ngoại khoa.
Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng là bệnh lý nặng và có thể có nhiều biến chứng đa cơ quan ngoài tim. Những biến chứng đó có thể rất nghiêm trọng và làm nặng tiên lượng, gây tăng nguy cơ tử vong cho người bệnh như: xuất huyết não, áp-xe não, nhồi máu phổi, lách, thận. Nhiễm trùng “di căn” đến các vị trí khác trong cơ thể như phổi, ổ bụng,…
6. Người bệnh cần lưu ý điều gì
Tuyệt đối không tự tiêm chích, truyền dịch tại nhà mà không có các kĩ thuật vô khuẩn/người thực hiện được huấn luyện kĩ.
Khi có sốt kéo dài, hãy đi khám và thông báo cho bác sĩ biết về tình trạng bệnh tim sẵn có.
Nếu đã từng bị ít nhất 1 lần viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, người bệnh cần được dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm trùng khi thực hiện các thủ thuật xâm lấn vùng răng hàm mặt như nhổ răng, vét nướu. Hãy báo cho bác sĩ biết về tình trạng đó.
Sau khi phẫu thuật lấy sùi trong tim, người bệnh phải dùng kháng đông ngắn hạn (3-6 tháng) hoặc kéo dài. Cần lưu ý những dấu hiệu xuất huyết và tuân thủ chế độ ăn uống, luyện tập trong thời gian dùng thuốc.
