Phiếu tóm tắt thông tin điều trị còn ống động mạch
1. Còn ống động mạch là bệnh gì?
Ống động mạch là cấu trúc mạch máu nối giữa động mạch chủ và thân động mạch phổi. Ống hoạt động trong thời kỳ bào thai. Bình thường, ống đóng dần từ 24 đến 48 giờ sau sinh do quá trình co cơ trơn thành ống. Sự đóng hoàn toàn về mặt giải phẫu tạo thành dây chằng động mạch xảy ra ở tuần thứ hai hoặc thứ ba sau sinh.
Nếu quá trình trên ở trẻ không xảy ra, gọi là bệnh còn ống động mạch.
2. Diễn biến tiến tự nhiên và triệu chứng bệnh lý còn ống động mạch
Biểu hiện bệnh phụ thuộc vào chiều dài và kích thước ống.
Nếu ống động mạch nhỏ: Không có biểu hiện triệu chứng, phát hiện tình cờ khi nghe tim có tiếng thổi hoặc qua siêu âm tim. Ống động mạch có thể đóng một cách tự nhiên.
Nếu ống động mạch trung bình: Có thể có triệu chứng, có biểu hiện các triệu chứng của suy tim.
Nếu ống động mạch lớn: Triệu chứng có thể xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ. Trẻ sơ sinh có thể có các biểu hiện như chậm tăng cân, ăn kém và suy hô hấp. Trẻ nhỏ và trẻ lớn có thể có các triệu chứng khó thở và giảm khả năng gắng sức. Người lớn có thể có biểu hiện của suy tim trái. Muộn hơn có thể có biểu hiện tím, ngón tay dùi trống
3. Làm sao để chẩn đoán còn ống động mạch
Khi nghi ngờ người bệnh còn ống động mạch, bác sĩ sẽ chỉ định các cận lâm sàng xâm lấn hoặc không xâm lấn để xác định bệnh. Siêu âm tim qua thành ngực là một phương pháp thăm dò không xâm lấn có giá trị chẩn đoán xác định bệnh lý còn ống động mạch, đánh giá được vị trí, kích thước của ống động mạch, khảo sát các tổn thương phối hợp và áp lực của động mạch phổi, từ đó đưa ra chiến lược điều trị phù hợp cho người bệnh.
4. Có những phương pháp điều trị đóng ống động mạch nào?
4.1. Nội khoa
Thường sử dụng để đóng ống động mạch ở trẻ đẻ non. Các thuốc thường được sử dụng là indomethacin, ibuprofen và paracetamol.
4.2. Thông tim can thiệp bít ống động mạch bằng dụng cụ
Ngày càng được thực hiện rộng rãi nhờ sự tiến bộ trong kỹ thuật can thiệp mạch máu, có thể can thiệp bít ống động mạch cho trẻ sơ sinh và trẻ có cân nặng thấp.
Ưu điểm của phương pháp này là giúp người bệnh tránh được cuộc mổ tim hở với những nguy cơ vốn dĩ luôn có thể xảy ra với bất kì cuộc phẫu thuật nào, mang tính thẩm mỹ cao khi không để lại sẹo tại ngực, giảm thời gian nằm viện và qua đó có thể tiết kiệm chi phí. Tỷ lệ thành công cao, ít biến chứng.
Kĩ thuật này đa phần được chọn cho người bệnh còn ống động mạch có giải phẫu phù hợp.
4.3. Phẫu thuật tim hở
Phẫu thuật áp dụng cho những người bệnh không thể can thiệp bít ống động mạch bằng dụng cụ. Với đường vào qua đường mở ngực sau bên trái không cần máy tim phổi nhân tạo.
5. Theo dõi sau điều trị
Sau bít ống, người bệnh cần được theo dõi lâm sàng, điện tâm đồ và siêu âm tim trong năm đầu tiên. Tùy từng trường hợp cần theo dõi thêm nếu còn tồn lưu luồng thông, có tổn thương phối hợp hoặc có tăng áp lực mạch máu phổi.
