Phiếu tóm tắt thông tin điều trị cắt tuyến tiền liệt nội soi qua ngã niệu đạo

1. Tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt là gì?

Tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt là tình trạng tuyến tiền liệt to lành tính ở nam giới bắt đầu trên tuổi 40, các tên gọi cũ của bệnh này trước kia của bệnh này là: phì đại tuyến tiền liệt, bướu lành tuyến tiền liệt, u xơ tuyến tiền liệt. Đây là bệnh lý rất phổ biến, nguyên nhân bệnh chưa biết rõ ràng, nhưng tuổi càng cao thì khả năng mắc bệnh càng nhiều.

Tuy tần suất tăng theo tuổi, nhưng bệnh diễn tiến chậm và không phải tất cả các bệnh nhân có tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt cần phải điều trị, các rối loạn đi tiểu do bệnh mang lại có thể ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

2. Khi nào cần phẫu thuật?

Chỉ định phẫu thuật hiện nay bao gồm, bí tiểu tái đi tái lại, nhiễm khuẩn niệu tái đi tái lại, tiểu máu đại thể nhiều lần, có sỏi bàng quang, túi thừa bàng quang, thận ứ nước hoặc suy thận do nước tiểu trào ngược từ bàng quang lên thận, một số trường hợp các triệu chứng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống và lưu lượng dòng tiểu tối đa (Qmax) < 10ml/s thì cũng cần phẫu thuật.

3. Phẫu thuật như thế nào?

Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị ngoại khoa tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt ít xâm lấn nhưng cắt tuyến tiền liệt qua ngã niệu đạo vẫn còn là “tiêu chuẩn vàng” trong điều trị ngoại khoa tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt với các ưu điểm: hiệu quả cao, chi phí thấp, ít đau, phục hồi nhanh, thời gian nằm viện ngắn, đảm bảo tính thẩm mỹ, giảm thiểu tối đa các biến chứng trong và sau mổ.

Trong phương pháp này, bác sĩ phẫu thuật sẽ đưa một dụng cụ nội soi nhỏ qua lỗ niệu đạo vào tuyến tiền liệt để tiến hành cắt nhỏ khối tăng sinh tuyến tiền liệt, sau đó cầm máu bằng dao điện lưỡng cực, mô tuyến tiền liệt được lấy ra ngoài qua kênh thao tác của ống soi. Bệnh nhân hoàn toàn không có vết mổ bên ngoài cơ thể.

4. Quy trình phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt nội soi qua ngã niệu đạo tại khoa ngoại tiết niệu – Bệnh viện Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

4.1. Chuẩn bị trước mổ

  • Thông báo với bác sĩ các bệnh lý mạn tính đang có và các loại thuốc đang dùng, đặc biệt là thuốc tim mạch như kháng đông, kháng kết tập tiểu cầu…

  • Cần tắm rửa sạch sẽ và nhịn ăn uống trước mổ ít nhất 8 giờ.

  • Đến bệnh viện đúng giờ hẹn trước mổ và được truyền dịch, kháng sinh trong khi chờ mổ.

  • Có thể uống thuốc theo chỉ định bác sĩ trước mổ như thuốc như: thuốc tăng huyết áp với ít nước vào sáng sớm.

4.2. Trong mổ

  • Bệnh nhân sẽ được chuyển đến phòng tiền phẫu khi ca mổ chuẩn bị bắt đầu.

  • Tại đây người nhà không được phép vào trong nhưng sẽ được chờ ngoài phòng mổ và theo dõi thời gian bắt đầu và kết thúc mổ trên màn hình TV và được thông báo những vấn đề cần thiết bởi nhân viên y tế.

  • Tại phòng tiền phẫu bệnh nhân có các vấn đề hay cần sự giúp đỡ như: đi vệ sinh, nhân viên y tế sẽ giúp đỡ.

  • Nếu gây tê tủy sống, bệnh nhân không có cảm giác đau đớn từ vùng thắt lưng trở xuống chân.

  • Ekip phẫu thuật sẽ bắt đầu gây tê hoặc gây mê và thực hiện cuộc mổ.

4.3. Kết thúc cuộc mổ

  • Bệnh nhân sẽ được chuyển đến phòng hồi tỉnh với ống thông tiểu được ròng rửa liên tục bằng nước muối trong 24h.

  • Bệnh nhân bắt đầu có cảm giác hơi đau nhẹ và khó chịu vùng dương vật do đặt ống thông.

  • Nước tiểu hoà lẫn nước ròng rửa sẽ có màu hồng nhạt là bình thường.

  • Bệnh nhân không được tự ý ngồi dậy sau chuyển từ phòng mổ qua phòng hồi tỉnh, hoặc lấy tay tự rút ống thông tiểu vì khó chịu.

  • Thông báo cho nhân viên y tế nếu thấy bất thường khác như: đau tức vùng hạ vị, nước tiểu đỏ, ống thông không ra nước tiểu...

4.4. Thời gian hậu phẫu tại khoa phòng

  • Bệnh nhân được chuyển khoa tiết niệu sau khi ổn định, Trong thời gian này sẽ có bác sĩ chuyên khoa thăm bệnh và điều dưỡng chăm sóc.

  • Bệnh nhân được truyền dịch, kháng sinh, cầm máu và các thuốc điều trị hằng ngày các bệnh mạn tính khác của mình.

  • Thông tiểu vẫn được ròng rửa đến khi nước tiểu nhạt dần và ổn định.

  • Chế độ ăn uống theo tiêu chuẩn của bệnh viện (bắt buộc).

  • Bệnh nhân có thể vận động nhẹ nhàng, ngồi dậy thậm chí đi lại nhẹ nhàng khi ngừng nước ròng rửa.

  • Bệnh nhân sẽ được bác sĩ đánh giá và rút thông tiểu tại thời điểm thích hợp và xuất viện, thường sau 48h sau phẫu thuật.

  • Các trường hợp có thể xảy ra sau phẫu thuật tại bệnh viện:

- Chảy máu nhiều gây nghẹt ống thông phải bơm rửa máu cục, đôi khi phải truyền máu hoặc nội soi lại để cầm máu nhưng rất hiếm.

- Nhiễm trùng, sốt phải truyền kháng sinh dài ngày.

- Chưa tự đi tiểu lại được sau khi rút thông tiểu vì vết mổ nội soi phù nề hoặc cổ bàng quang bị co thắt thì phải đặt lại ống thông, trong trường hợp này có thể mang thông tiểu về nhà và được hướng dẫn chăm sóc tại nhà, sau khi tái khám và rút thông tiểu sau 1 tuần tại phòng khám ngoại trú.

4.5. Sau khi xuất viện

  • Sau khi xuất viện bệnh nhân đi tiểu sẽ còn đau rát nhẹ, tia nước tiểu không đều hoặc nhiều tia, tiểu màu hồng, tiểu nhiều lần do vết mổ chưa lành hoàn toàn.

  • Bệnh nhân được khuyên uống nước trung bình 02 lít/01 ngày.

  • Tránh táo bón, ăn uống bình thường, vận động đi lại nhẹ nhàng.

  • Không tập thể dục và khiêng vật nặng > 5kg.

  • Kiêng quan hệ tình dục

  • Tái khám đúng hẹn và nhận kết quả giải phẫu bệnh lý của mô tuyến tiền tiền liệt lại phòng khám.

  • Tái khám ngay hoặc nhập khoa cấp cứu nếu ngoài giờ hành chánh nếu có các triệu chứng sau đây: bí tiểu, sốt, đau bụng, tiểu máu cục.

4.6. Theo dõi lâu dài

  • Đa số các triệu chứng sẽ giảm sau 2 - 4 tuần, đôi khi các triệu chứng rối loạn đi tiểu sẽ không hết hoàn toàn. Sau phẫu thuật đôi khi cũng cần dùng thêm thuốc uống hỗ trợ được bác sĩ kê toa khi tái khám để đạt hiệu quả tốt nhất.

  • Đôi khi hẹp niệu đạo hoặc hẹp cổ bàng quang sau phẫu thuật có thể gây tiểu khó lại dần dần. Bệnh nhân cần được tái khám định kỳ để kiểm tra.

  • Tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt có thể tái phát dần lại theo thời gian vài năm hoặc có thể phát sinh bệnh khác hơn như ung thư tuyến tiền liệt.

  • Xuất tinh ngược dòng thường xảy ra sau khi phẫu thuật là trường hợp xuất tinh có khoái cảm nhưng tinh dịch không chảy ra ngoài mà chảy ngược vào bàng quang. Bệnh nhân khi quan hệ sẽ không thấy tinh dịch. Sau đó sẽ đi tiểu nước tiểu đục do có lẫn tinh dịch điều này không ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân nhưng bệnh nhân sẽ không thể có con tự nhiên.

Chia sẻ

Bài viết liên quan